HẢI PHÒNG Thời tiết thất thường khiến người trồng vải thiều buộc phải kết hợp kỹ thuật mới, canh tác linh hoạt để thích ứng và giữ được năng suất, chất lượng ổn định.
Cơn mưa đầu hạ vừa dứt, những con đường nhỏ dẫn vào vùng vải Thanh Hà (TP Hải Phòng) còn đẫm nước, hơi đất ngai ngái quyện cùng mùi lá non sau mưa. Năm nay nhiều vườn vải chỉ có một màu xanh thẫm của tán lá. Cành vải xòe rộng nhưng thưa quả, có vườn lặng im đến nao lòng, không còn cảnh người dân tất bật tỉa cành, chống chùm, chờ ngày thu hái như năm được mùa.

Những vườn vải của Tổ sản xuất số 10 vẫn trĩu quả trong bối cảnh vải thiều nhiều nơi mất mùa. Ảnh: Phi Yến.
Thế nhưng ở khu bãi ngoài đê vốn lâu nay được xem là vùng sản xuất nhọc nhằn nhất vì thường xuyên đối mặt ngập lụt, gió mạnh và thời tiết khắc nghiệt, những vườn vải vẫn sai quả, cành trĩu xuống sau mưa. Giữa một năm mất mùa bao trùm, vùng đất tưởng chừng bất lợi ấy lại trở thành điểm sáng.
Giữa những hàng vải còn đọng nước mưa, ông Phạm Văn Thành, Tổ trưởng Tổ sản xuất số 10, thôn Thúy Lâm, xã Thanh Hà bước chậm dưới tán cây, ánh mắt vừa trầm ngâm vừa ánh lên sự tự tin của người đã gắn bó cả đời với vùng quả ngọt này. Nắng gió, lũ lụt, thủy triều hay những mùa thất bát, với ông đều là những thử thách mà người trồng vải nơi bãi ngoài đê đã quen đối mặt.
Ông Thành cho biết, năm 2026, Tổ sản xuất có khoảng 10ha vải, chủ yếu là giống vải u hồng, năng suất chỉ đạt chừng một nửa so với năm 2025. Nguyên nhân lớn nhất đến từ điều kiện canh tác đặc thù của khu bãi ngoài đê. Hai năm liên tiếp xuất hiện lũ, ngập lụt đã ảnh hưởng rõ rệt đến quá trình ra hoa, đậu quả của cây, đồng thời gây nhiều trở ngại cho sản xuất. Chưa kể, khu vực này còn chịu tác động thường xuyên của thủy triều nên cách trồng vải cũng khác với vùng trong đê, từ việc tưới nước, cải tạo đất đến cách chăm sóc từng giai đoạn.

Ông Phạm Văn Thành chia sẻ việc sản xuất vải trong một năm khó khăn với Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật Nguyễn Thị Thu Hương. Ảnh: Phi Yến.
Cũng chính trong gian khó ấy, người dân bãi ngoài đê đã tích lũy cho mình những kinh nghiệm riêng để thích nghi. Theo ông Thành, trồng vải bây giờ không thể chỉ dựa vào thói quen cũ mà phải biết quan sát thời tiết, rút kinh nghiệm qua từng năm, điều chỉnh kỹ thuật canh tác để ứng phó với khí hậu ngày càng cực đoan, giữ được cả sản lượng lẫn chất lượng quả.
“Giống chủ lực của Tổ sản xuất chúng tôi là vải u hồng, là dòng vải chín sớm mang đầy đủ nét đặc trưng của vải Thanh Hà, có vị đậm đà, thơm dịu, chua nhẹ nhưng thanh và dễ ăn. Bởi chín sớm hơn nhiều vùng khác nên vải u hồng luôn được thị trường đón nhận, thường mở đầu mùa vải với mức giá tốt”, ông Phạm Văn Thành chia sẻ.
Để giữ được thương hiệu, nhiều năm qua, Tổ sản xuất số 10 đã phát triển cây vải theo mô hình cánh đồng mẫu lớn, thống nhất cùng một quy trình chất lượng cao theo tiêu chuẩn GlobalGAP. Từ khâu chăm sóc, sử dụng phân bón, thuốc bảo vệ thực vật đến thu hoạch, sơ chế đều được kiểm soát chặt chẽ nhằm đáp ứng yêu cầu của các thị trường nhập khẩu.

Người trồng vải cần biết quan sát thời tiết, rút kinh nghiệm qua từng năm, điều chỉnh kỹ thuật canh tác để ứng phó với khí hậu ngày càng cực đoan. Ảnh: Phi Yến.
“Biến đổi khí hậu đang buộc người trồng vải phải thay đổi nhanh hơn bao giờ hết. Nếu trước kia chỉ cần trông vào kinh nghiệm cha ông thì nay phải biết kết hợp kinh nghiệm với kỹ thuật mới, canh tác linh hoạt theo thời tiết”, ông Thành đúc kết.
Không lơ là, tránh tâm lý “kiểu gì cũng bán được”
Bà Lương Thị Kiểm, Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường Hải Phòng cho biết ngay từ đầu vụ, ngành nông nghiệp Thành phố không chờ đến khi khó khăn hiện rõ mới vào cuộc mà đã chủ động từ rất sớm, “đi trước một nhịp” trước những biến động thất thường của thời tiết và những đòi hỏi ngày càng khắt khe của thị trường.

Theo bà Lương Thị Kiểm (thứ 2 từ trái sang), ngành nông nghiệp TP Hải Phòng đã đồng hành, sát sao cùng người dân để giữ được hoa, giữ được quả vải thiều. Ảnh: Phi Yến.
Những hướng dẫn kỹ thuật được cụ thể hóa, cán bộ bám sát từng vùng vải, cùng người dân chăm cây ngay từ lúc vừa qua đông. Từ việc khống chế lộc đông, giữ nhịp sinh trưởng cho cây đến cách bón phân, tưới nước…, tất cả đều hướng tới mục tiêu chung là giữ được hoa, giữ được quả trong một năm “trời không chiều lòng người”.
“Công tác dự báo sâu bệnh cũng được siết lại bởi trong một vụ mùa nhiều biến động, chỉ cần chậm một nhịp phát hiện là có thể trả giá bằng. Công tác thăm vườn dày hơn, những cảnh báo sớm hơn được triển khai như một lớp ‘phòng tuyến mềm’ để bảo vệ thành quả mùa vụ”, bà Kiểm chia sẻ.
Bà Nguyễn Thị Thu Hương, Phó Cục trưởng Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) nhìn nhận, vụ vải năm nay đang đặt ra một nghịch lý dễ khiến người trồng rơi vào trạng thái chủ quan.

Bà Nguyễn Thị Thu Hương (bìa phải) đề nghị các địa phương tập trung cao độ cho giai đoạn chăm sóc cuối vụ vải thiều. Ảnh: Phi Yến.
“Năm nay sản lượng giảm, nguồn hàng khan hiếm nhưng nhu cầu thu mua lại tăng. Khi hàng ít, người mua nhiều, tâm lý ‘kiểu gì cũng bán được’ có thể xuất hiện, kéo theo sự lơ là ở khâu chăm sóc cuối vụ, từ mẫu mã, chất lượng đến các yêu cầu về an toàn thực phẩm”, bà Hương phân tích, đồng thời nhấn mạnh chính những năm khó khăn nhất, kỷ luật sản xuất càng phải được giữ nghiêm.
Bà Hương cho rằng, những vùng vải trứ danh như Thanh Hà có được vị thế như hôm nay là kết quả của quá trình tích lũy lâu dài về chất lượng và uy tín. Chính vì vậy, trong năm mất mùa, việc giữ vững danh tiếng sản phẩm càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết bởi đó là cách để giữ thị trường.
Cục Trồng trọt và Bảo vệ thực vật đề nghị các địa phương tập trung cao độ cho giai đoạn chăm sóc cuối vụ vải thiều với hai trọng tâm xuyên suốt. Trước hết là bảo đảm dinh dưỡng, nước tưới và điều tiết chăm sóc hợp lý nhằm giữ chất lượng quả, hạn chế tình trạng nứt, rám vỏ hay xuống mã trong điều kiện thời tiết bất thường. Tăng cường phòng trừ sinh vật gây hại, bảo vệ tối đa số quả còn lại trên cây bởi khi sản lượng giảm, mỗi chùm quả bị mất đi đều là tổn thất không nhỏ.

Trong năm mất mùa, việc giữ vững danh tiếng sản phẩm càng trở nên quan trọng bởi đó là cách để giữ thị trường. Ảnh: Phi Yến.
Năm 2026, thành phố Hải Phòng có khoảng 9.350ha vải với cơ cấu trà tương đối cân đối khi vải sớm và vải chính vụ mỗi loại chiếm khoảng 50% diện tích. Thời gian thu hoạch được dự kiến từ đầu tháng 5 đối với trà vải sớm, tập trung cao điểm trong khoảng từ ngày 10 đến 25/5. Trong khi đó, vải chính vụ bước vào thu hoạch từ đầu tháng 6 và rộ nhất từ ngày 5 đến 20/6.
Sản lượng vải toàn Thành phố năm nay ước đạt khoảng 55.000 tấn, trong đó vải sớm chiếm khoảng 35.000 tấn, vải chính vụ khoảng 20.000 tấn.
Phần lớn diện tích vải của Hải Phòng hiện được sản xuất theo quy trình an toàn. Tính đến năm 2025, địa phương duy trì 12 vùng trồng đạt chứng nhận GlobalGAP và 81 vùng đạt chứng nhận VietGAP với tổng diện tích được chứng nhận khoảng 1.045ha.
Về tiêu thụ, dự kiến khoảng 50% sản lượng vải năm nay sẽ được xuất khẩu. Trong đó thị trường Trung Quốc vẫn chiếm tỷ trọng lớn với khoảng 40%, còn lại khoảng 10% sản lượng được đưa vào các thị trường cao cấp như Nhật Bản, Hoa Kỳ, Australia và EU.

